Thư mục

Gốc > Kể chuyện Bác Hồ >

Chuyện Kể Bác Hồ : Tháng Năm Kỳ Lạ

Chuyện Kể Bác Hồ : Tháng Năm Kỳ Lạ
Chủ Tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các chiến sĩ sư đoàn quân tiên phong tại Đền Hùng trước khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội ngày 19/9/1954
THÁNG NĂM KỲ LẠ
HOÀNG VĂN BỔN (*)
Sau hơn hai năm vô cùng gian khổ, đại đội thông tin đường dài thuộc Bộ Tổng tham mưu chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Có bốn đồng chí mãi mãi nằm lại bên gốc cây lim già Trường Sơn, bên gốc cây săng lẻ trên đất Lào. Cả đai đội đứng im lặng quanh ngôi mộ. Vài loạt súng vĩnh biệt. Một mảnh giấy cuộn tròn đút trong ống thủy tinh thuốc tiêm đặt gần bàn chân trái người đã khuất, có ghi những điều giản dị: “Huỳnh Văn. . . chiến sĩ thông tin thuộc Bộ Tổng tham mưu, quê ở tỉnh Biên Hòa, hy sinh ngày ... tháng... năm. ... trong khi bắc đường dây điện thọai đường dài Bắc - Nam phục vụ nhiệm vụ giải phóng miền Nam thân yêu”. .
Một phần ba đại đội phải vào bệnh viện khi rút quân về đồng bằng. Các đại đội khác đóng quân quanh đó. Vào cuối mùa công tác, chiếc xe chở cột điện lăn xuống vực sâu như hòn sỏi rớt. Anh em chúng tôi bị cột điện đè, quăng quật, có người gãy tay gãy chân. Riêng tôi bị gỗ đè dập phổi, trào máu. Vào bệnh viện phải nằm bất động, ngày ngày cô Nhàn y tá phải đổ nước súp cầm hơi. Cùng nằm với tôi có hơn hai chục anh em cùng đại đội: Cậu Hừng “Kỹ sư” người xương xẩu, công tác rất hăng, được thưởng huân chương, tính hay bông đùa, mở miệng là nói “Tiến về Nam” nên anh em đặt cho biệt hiệu "Hừng tiến về Nam". Hừng bị sốt rét ác tính, tưởng phải chôn ở Trường Sơn, lại bị thần kinh nặng, khùng khùng. Cậu Chà người Bà Rịa đen như củ ấu, lẹm cằm, trước ngày tập kết làm xã đội phó, được thưởng Huân chương Kháng chiến hạng ba, khiêng cột suốt ngày không chịu nghỉ, thường nói “Khiêng một cây cột là rút ngắn một ngày về Nam”. Bị bệnh sết rét, bệnh thương hàn vò xé suốt mấy tháng trời, đầu trọc lóc như ông sư, cũng bị thần kinh nặng, lúc lên cơn điên thường la lối: “Tru di tam tộc Ngô Đình Diệm đi !, anh em thường gọi là Chà trọc đau. Các cậu Tám, út Bìa và sáu anh em nữa, cũng kiệt sức vì bệnh thần kinh. Cậu Sơn “Xe đạp” trắng trẻ, đẹp trai là thế, giờ đã “trai tráng sĩ cũng so vai rụt cổ”, môi thâm đen, râu xuội lơ, lông mày “than ôi”. Sơn bị chứng rối loạn tiền đình rất nặng. Khi cơn bệnh hành hạ, cậu cắn răng, ngồi im lặng, mặt tím bầm, hai mắt lồi ra, chốc chốc lại kêu: “Cái mão kim cô của Phật Bà Quan âm siết tôi lòi mắt, lòi óc”. Trông thấy cảnh ấy, không sao cầm được nước mắt. Ngoài số anh em bị thần kinh nặng thuộc đại đội chúng tôi còn có hơn tiểu đội thuộc các sư đoàn, đại đội khác nằm chung. Do đó, cơn điên khùng, cơn nổi loạn của họ hình như được cộng hưởng, bị kích động rất nhiều. Anh em trong đơn vị ngày nào cũng đến thăm, mang nhiều tin không vui của đơn vị, từ bên ngoài vào, chẳng khác rót thêm dầu vào lửa. Những ngày ấy, Trung ương Đảng chưa ra Nghị quyết 15 về đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong Nam, Mỹ- Diệm đẩy mạnh chiến dịch tố cộng, thảm sát đồng bào ta, lập ấp Tân sinh, khu trù mật, nhà tù, tăng cường quân lực, cảnh sát. Ngày xuống tàu tập kết ra Bắc, giơ cao hai ngón tay hẹn hai năm sẽ trở về. Nay, hai năm đã qua rồi. Ngày về Nam còn mờ mịt, cũng chưa biết bằng cách nào, bằng đường nào? Một số anh em tổ chức về Nam chiến đấu. Đêm đêm, họ vượt sông Bến Hải, bị địch bắn chết cũng nhiều. Sư đoàn phải tổ chức lực lượng tuần tra ngăn chặn, đuổi bắt số anh em ấy trở lại. Đêm nào cũng có chuyện hai lực lượng ấy cãi vã nhau, thậm chí đánh nhau rồi ôm nhau khóc ròng. Nhiều anh em tổ chức thành từng đoàn cuốc bộ hàng ba trăm cây số về tận Hà Nội xin được gặp Bộ Tổng Tư lệnh tối cao, xin được gặp Bác Hồ hỏi cách thức, ngày giờ giải phóng miền Nam, xin được mang súng đạn vượt sông Bến Hải về Nam chiến đấu trước...
Cái tình yêu quê hương xứ sở của anh chị em cán bộ, quân đội miền Nam tập kết những ngày ấy nó bừng cháy, thủy chung và cũng ngây thơ, ấu trĩ làm sao... Cậu Hừng, Chà, Út Bìa đang ngồi nói chuyện cùng tôi, nhắc nhở hai năm trời gian khổ trên đất Lào, bỗng dáo dác mắt long sòng sọc khi có một tốp bộ đội miền Nam tập kết “tìm về Bộ Tổng” kéo ngang, đưa tay ngoắc họ. Thế là bùng lên. Các cậu xung phong đến phòng Bác sĩ, giám đốc, y tá, hộ lý . . . mà các cậu cho là dinh của Ngô Đình Diệm...xông bừa vào. (Chính những ngày ấy, tôi được gặp lại nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn tức Nguyễn Thi đang đi thực tế các đơn vị miền Nam tập kết. Anh đã viết truyện ngắn “Im lặng” mang không khí buồn thảm trong bối cảnh ấy). May thay, ngay trong đỉnh cao của cơn điên, các cậu còn chịu nghe lời một vài cán bộ, trong đó có tôi. Mà tôi lại đang nằm bất động. Nhúc nhích, cựa quậy, phải có người nâng. Tự làm lấy, sẽ ói ra máu. Thế mà các cậu đêm nào cũng đến bên giường tôi thì thầm nghiêm trọng: Đàng kia có tên Ngô Đình Diệm bận quần áo trắng đang tra tấn anh em đồng chí ta (bác sĩ đang tiêm thuốc cho bệnh nhân), nào có thằng cha mật vụ của Diệm đang rình mò (anh bảo vệ bệnh viện đang mang súng đi đi lại lại) Đêm hôm sau, cả bệnh viện nháo nhào: Cậu Hừng “Tiến về Nam” và các cậu khác bỏ đi đâu mất. Lập tức bổ đi tìm. Đêm hôm sau, mới lôi được các cậu ấy trở về người lấm lem như đi cầy. Các cậu ấy đã nhảy tàu lửa ra Hà Nội gặp Bác Hồ và Bộ Tổng Tư lệnh...
Sau lần kéo nhau vượt trại vào tận sông Bến Hải định vượt sông về Nam chiến đấu, các cậu bị giam. Thôi thì các cậu chửi bới, vớ được thứ gì cũng ném, ôm vỏ đạn pháo 105 cũ hô xung phong suốt ngày đêm. .. Một đêm cậu Hừng “Tiến về Nam” trốn trại dẫn theo một người đến tìm tôi. Người ấy nói: “Tôi được lệnh tuyệt mật tuyển anh em miền Nam tập kết chuẩn bị mở đường đem súng đạn về chiến đấu giải phóng miền Nam. Anh giới thiệu cho chúng tôi các anh em tốt” (Sau này, tôi được biết đó là người của đại tá Võ Bẩm được lệnh chuẩn bị lực lượng mở đường Trường Sơn). Tôi cung cấp danh sách anh em tôi quen biết và tin tưởng, tức nhiên là có cậu Hừng, Sơn, Chà, Út Bìa, Tám... Tháng sau, lác đác các cậu khỏi bệnh bí mật ra đi. Riêng tôi, cơn bệnh vẫn trầm trọng, vẫn phãi nằm bất động. Cựa quậy, lập tức khạc ra máu. Tôi nghiền tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy” của Ốttrốpky học tập tinh thần đấu tranh với bệnh tật của Paven Cóocxaghin... Đêm đêm, tôi lần theo tường ra đứng cạnh bờ tường bệnh viện ngóng nhìn những ngọn đồi quanh đơn vị đóng quân, dõi theo các đơn vị quần áo bà ba đen, mang balô gạch trên lưng leo núi, lội suối, trèo đèo. Họ được rèn luyện chu đáo cho cuộc hành quân về Nam sắp tới. Có đêm tôi đứng đấy đến sáng trắng. Mơ ước cao nhất của tôi lúc ấy là khỏi bệnh, được mang ba lô nặng tiến về Nam như các đồng chí bên ngoài kia... Trong bóng đêm bệnh viện, tôi âm thầm lau nước mắt. Càng bị dày vò, càng bệnh nặng, càng tuyệt vọng. Lúc nào mãi mãi nằm lại đây? ý nghĩ ấy khiến tôi hoảng sợ. Tuổi mới hăm bảy,  ước muốn còn nhiều..., quê hương, con sông Đồng Nai ruột thịt... Tháng Ba “bà già chết rét” trôi qua, rồi tháng Tư với những chòm hoa gạo cháy đỏ chân trời phía Nam, cơn nóng bức bắt đầu nhóm lên. Các đỉnh núi phía Nam đã được giải phóng khỏi những chiếc mão kim cô quấn quanh đỉnh đến bạc trắng. Và tháng Năm với những lề đường cháy rực hoa phượng, tràn ngập tiếng ve. Nhưng, cái vòng luẩn quẩn trong tâm tưởng tôi lại rối bời. Làm sao bây giờ ?
Một sáng tháng Năm, bỗng tiếng loa trên đường khua lạo xạo bất thường, giọng người truyền thanh bồi hồi, run rẩy. Bảo vệ, bác sĩ, y tá chạy rầm rập, canh gác chỗ đám bệnh nhân thần kinh và bất động chúng tôi. Cậu Hừng “Tiến về Nam”' , cậu Chà “Trọc lóc”, Sơn “Xe đạp”... đều bị nhốt vào phòng. Ngoài đường người ta nhốn nháo, ngóng cổ, chen lấn, thì thầm... Tiếng còi ô tô từ hướng Nam lớn dần. Bỗng nhiên có ai đó kêu nghẹn ngào : “Bác Hồ ! Bác Hồ muôn năm ! “. Bàng hoàng như chiêm bao giữa ban ngày, tôi chồm dậy, lập tức bi cô y tá đè xuống, thì thào: “Nằm xuống, anh. Trào máu bây giờ. .. “ . Một bóng áo trắng từ phòng số 5 lao vút qua chỗ tôi, thét lạc giọng : “Bác Hồ muôn năm ! ... Bác Hồ.. . “ . Cậu Hừng, cậu Chà, cậu Sơn đã bẻ khóa phòng số 5. Một bàn tay nắm lấy tay tôi lôi phắt dậy, gạt cô y tá sang bên, thét: “Bác Hồ về... Đi đón Bác Hồ. .. “ . Chính cậu Hừng “Tiến về Nam” đã giải thoát tôi khỏi cô y tá Người rất đông, tràn ngập bệnh viện, ùn ùn như nước, phềnh ra, thu hẹp lại chừa lối đi. Con đường vào bệnh viện rực rỡ hoa phượng đỏ do tiếng hô “Bác Hồ muôn năm !” lay động, rụng đỏ mặt đường, đỏ mái nhà, mái tóc, vai áo. Từ nhà bếp bệnh viện, ông già hồng hào, râu bạc, tóc bạc, tay giơ cao chiếc mũ lá gồi. Hoa phượng mùa hè rắc đỏ mái tóc bạc, bám chòm râu bạc. Bác giơ tay ra hiệu. Đám đông im lặng. Cả mặt biển đang ầm ào xao động bỗng im phăng phắc kỳ lạ.
- Các cô chú miền Nam tập kết đâu, lại đây, đứng sang một bên. Bác nói.
Gần trăm nam nữ bệnh nhân, bộ đội, nhân viên bệnh viện lập tức dàn thành hàng cánh cung xung quanh Bác. Cậu,Hừng "Tiến về Nam" được đứng gần Bác nhất, vừa khóc vừa mân mê mấy sợi râu bạc của Bác, nhặt cánh hoa phuợng mùa hè bám râu, cổ áo Bác.
Bác nhìn chúng tôi, mắt chớp chớp. Các đồng chí bảo vệ định chen vào tách chúng tôi ra xa Bác một chút. Bác khoát tay ra hiệu: “Không cần !” và Bác đưa bàn tay đặt lên nghe trái, chỗ có trái tim của Người đang đập mạnh: “ở đây... ở đây ... miền Nam...”. Đôi mắt tinh anh của Bác chớp chớp, nhiều nốt ruồi trên mặt Bác run run. Biển người lặng phắc. Chúng tôi lau nước mắt. Ai đó vụt thét lên: “Bác Hồ muôn năm !”. Và mặt biển gào lên: “Bác Hồ muôn năm !”.
Bác nói thêm mấy câu ngắn trong xúc động.
Giọng Bác rất ấm, âm vang. Rùng rùng sóng người và hàng hóa phượng tháng Năm cháy rực. Bác bắt nhịp, sóng người chuyển động theo cánh tay hồng hào ấy, miệng cất cao bài hát “Kết đoàn”, người rân rân, nước mắt ràn rụa. Không ai còn nhớ mình là bệnh nhân đang phải nằm bất động, đang đối phó với từng cơn điên bất thường, là người miền Nam hay người miền Bắc. Không. Không còn tất cả những điều ấy. Chỉ có một “ông Tiên” 'hồng hào, một biển người nghẹn ngào, một bầu trời tháng Năm tràn ngập tiếng ve mùa hè và chân trời phía Nam rực rỡ hoa phượng.. . .
Bác chỉ vừa đi khỏi một tiếng đồng hồ, mà anh em chúng tôi đã quây quần bên nhau, thì thầm kể lại kỷ niệm vừa qua. Không đầy một tiếng đồng hồ, đã trở thành kỷ niệm của một đời người. Chúng tôi kể mỗi ngày mỗi đêm. .. Và kỳ lạ sao, cho tới bây giờ, gần bốn chục năm trời trôi qua, tôi vẫn không sao cắt nghĩa được: Sau lần được gặp Bác, được nghe Bác nói về con đường Trường Sơn, về Nghị quyết 15 của Trung ương, chúng tôi đã quên hẳn cơn bệnh trầm trọng của mình. Đang nằm bất động như tôi mà bỗng dưng chạy nhảy, la thét, vậy mà không hề hấn gì cả: Không tức ngực, không tanh lợm cổ họng, không thấy mấy đóm đỏ bay vòng qua cửa sổ. Cậu Hừng “Tiến về Nam”, cậu Chà "Trọc lóc", Út Bìa, Tám... chỉ vài tuần sau đã trở lại bình thường, đi nhặt cánh hoa phượng tháng Năm nơi Bác từng đứng, đưa lên mũi ngửi. Một tháng sau, chúng tôi ra viện. Trong buổi họp Đảng ủy đầu tiên của đơn vị, chúng tôi được thông báo: Có một con đường xẻ dọc Trường Sơn vào tận miền Nam ruột thịt. Bộ tư lệnh con đường ấy đã hình thành, đã đặt được chín binh trạm đầu tiên xuyên Trường Son đại ngàn, đồng chí Trần Hành, Thường vụ khu ủy Trị - Thiên đã nhận gùi hàng ấy... Trong cuộc gặp , Bác đã hỏi đại tá Võ Bẩm, Tư lệnh đầu tiên mở con đường mang tên Người: “Các chú làm cách nào mà giỏi thế”. Chúng tôi hình dung lúc hỏi câu ấy, thể nào Bác cũng đặt bàn tay lên ngực trái của Người, nghĩ: “Đây, chỗ này... Miền Nam... chỗ này này...”
H.V.B
(*) Nhà văn. Chủ tịch danh dự Hội Văn nghệ Đồng Nai.

Nhắn tin cho tác giả
Tuấn Anh @ 21:21 30/12/2011
Số lượt xem: 149
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến